Website được thiết kế tối ưu cho thành viên chính thức. Hãy Đăng nhập hoặc Đăng ký để truy cập đầy đủ nội dung và chức năng. Nội dung bạn cần không thấy trên website, có thể do bạn chưa đăng nhập. Nếu là thành viên của website, bạn cũng có thể yêu cầu trong nhóm Zalo "KSNK" các nội dung bạn quan tâm.

Kiểm soát sử dụng vật tư đóng gói lẻ (Sterile Pouches): Quản lý định mức hấp sấy để tránh xuất toán BHYT

Trong công tác kiểm soát nhiễm khuẩn, việc sử dụng túi đóng gói lẻ (Sterile Pouches) để hấp sấy dụng cụ là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo tính vô khuẩn. Tuy nhiên, việc sử dụng vượt định mức hoặc kê khai không đúng quy định tại Quyết định 1924/QĐ-BYT đang trở thành một trong những nguyên nhân gây xuất toán BHYT tại các khoa xét nghiệm và phòng mổ.

Dù chi phí cho mỗi túi đóng gói lẻ không quá cao, nhưng với số lượng dịch vụ kỹ thuật khổng lồ, việc thiếu kiểm soát định mức sẽ dẫn đến những sai lệch lớn trên bảng kê tài chính tổng thể của bệnh viện.

1. Tóm tắt nội dung quy định pháp lý

Quyết định 1924/QĐ-BYT của Bộ Y tế quy định về định mức kinh tế kỹ thuật làm cơ sở xây dựng giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Trong đó, chi phí vật tư đóng gói lẻ được quy định như sau:

  • Kết cấu trong giá dịch vụ: Chi phí túi hấp, chỉ thị màu, băng keo chỉ thị và chi phí hấp sấy đã được tính vào giá của các dịch vụ kỹ thuật (DVKT) hoặc các gói phẫu thuật/thủ thuật.

  • Định mức sử dụng: Quy định số lượng túi đóng gói tương ứng với từng loại bộ dụng cụ cho mỗi lần thực hiện kỹ thuật.

  • Nguyên tắc thanh toán: Bệnh viện không được thu thêm tiền túi đóng gói lẻ nếu dịch vụ kỹ thuật đó đã được kết cấu trọn gói, trừ các trường hợp đặc biệt có quy định riêng.

2. Các điểm cần lưu ý để không bị xuất toán

2.1. Những nội dung dễ bị hiểu sai

  • "Dùng túi kích thước nào cũng được": Nhiều đơn vị sử dụng túi kích thước lớn cho dụng cụ nhỏ, gây lãng phí. BHYT sẽ đối soát mã túi (kích thước) với loại dịch vụ thực hiện. Nếu sử dụng túi không tương đương với định mức kỹ thuật của dịch vụ, phần chênh lệch giá sẽ bị xuất toán.

  • Tách riêng chi phí đóng gói: Một số bệnh viện tách chi phí "Túi đóng gói lẻ" thành một dòng riêng trên bảng kê BHYT ngoài giá DVKT. Điều này bị coi là tính trùng chi phí vì túi đóng gói thường đã nằm trong kết cấu "Vật tư tiêu hao" của dịch vụ chính.

2.2. Điều kiện thanh toán và minh chứng dữ liệu

  • Sự tương khớp số lượng: Số lượng túi đóng gói lẻ sử dụng phải khớp với số lượt DVKT đã thực hiện. Ví dụ: Thực hiện 10 ca nhổ răng thì số lượng túi đóng gói bộ dụng cụ nhổ răng tương ứng phải là 10.

  • Nhật ký hấp sấy: Đây là minh chứng quan trọng khi hậu kiểm. Dữ liệu trên phần mềm phải khớp với nhật ký tại khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, thể hiện rõ: Ngày hấp, số lượng gói dụng cụ, loại túi sử dụng và kết quả chỉ thị màu.

2.3. Những sai sót thường gặp trong thực tế

  • Lỗi mã hóa vật tư: Áp sai mã hiệu túi đóng gói lẻ giữa các hãng sản xuất hoặc giữa túi hấp nhiệt và túi hấp plasma (giá chênh lệch rất lớn).

  • Kê khai vượt định mức: Sử dụng nhiều túi cho một bộ dụng cụ duy nhất mà không có lý do chuyên môn (ví dụ: bọc hai lớp túi cho các kỹ thuật thông thường).

  • Thiếu chỉ thị màu: Sử dụng túi đóng gói nhưng không có chỉ thị màu hoặc chỉ thị màu không đạt yêu cầu nhưng vẫn kê khai thanh toán.

3. Gợi ý cách triển khai trong bệnh viện

Để quản trị hiệu quả rủi ro này, bệnh viện nên thực hiện các giải pháp sau:

  1. Thiết lập định mức cứng trên hệ thống HIS: Liên kết mã vật tư túi đóng gói lẻ trực tiếp với mã DVKT. Khi bác sĩ/điều dưỡng chỉ định dịch vụ, hệ thống tự động trừ kho số lượng túi tương ứng theo đúng định mức của Quyết định 1924/QĐ-BYT.

  2. Số hóa quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn: Triển khai phần mềm quản lý dụng cụ tập trung. Mỗi gói dụng cụ sau khi đóng gói và hấp sấy sẽ được dán nhãn Barcode. Khi sử dụng cho bệnh nhân, điều dưỡng chỉ cần quét mã để ghi nhận thông tin túi đóng gói vào hồ sơ thanh toán.

  3. Quản lý kho lẻ chặt chẽ: Khoa Dược chỉ cấp phát túi đóng gói lẻ dựa trên số lượng DVKT thực tế đã thực hiện của tháng trước, tránh tình trạng tích trữ tại khoa lâm sàng gây sai lệch tồn kho.

  4. Hậu kiểm định kỳ: Tổ giám định nội bộ thực hiện đối soát: Số lượng túi xuất kho = Số lượng dịch vụ kỹ thuật thực hiện x Định mức. Bất kỳ sai số vượt ngưỡng (thường >5%) cần được làm rõ nguyên nhân để điều chỉnh quy trình.